NGÀY SÁCH VÀ VĂN HÓA ĐỌC VIỆT NAM
Fidel-castro

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Ngày gửi: 10h:59' 20-01-2026
Dung lượng: 4.5 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Ngày gửi: 10h:59' 20-01-2026
Dung lượng: 4.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
CUỘC ĐỜI TÔI
Một trăm giờ với Fidel Castro
(HỒI KÝ QUA LỜI KỂ)
Người dịch: ĐỖ TUẤN ANH - HOÀNG
MẠNH HIỂN
NHÀ XUẤT BẢN THÔNG TẤN - 2008
Số trang: 960
Kích thước: 16 x 24 cm
Thực hiện ebook: hoi_ls
(www.e-thuvien.com)
Một trăm giờ với Fidel
1
TUỔI THƠ CỦA MỘT LÃNH TỤ
https://thuviensach.vn
2
SỰ XU,T HIỆN CỦA MỘT NGƯỜI NỔI LOẠN
3
THAM GIA CHÍNH TRỊ
4
TẤN CÔNG TRẠI LÍNH MONCADA
5
NỀN TẢNG CỦA CUỘC CÁCH MẠNG
6
“LỊCH SỬ SẼ BÀO CHỮA CHO TÔI”
7
CHE GUEVARA
8
TRONG VÙNG NÚI SIERRA MAESTRA
9
NHỮNG BÀI HỌC TỪ MỘT CUỘC CHIẾN TRANH DU KÍCH
10
CÁCH MẠNG: NHỮNG BƯỚC ĐI ĐẦU TIÊN,
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẦU TIÊN
11
NHỮNG ÂM MƯU BẮT ĐẦU
12
VỊNH CON LỢN/ PLAYA GIRÓN
13
“KHỦNG HOẢNG TÊN LỬA CUBA” THÁNG 10 NĂM 1962
14
CÁI CHẾT CỦA CHE GUEVARA
15
CUBA VÀ CHÂU PHI
16
CUỘC KHỦNG HOẢNG DI CƯ
17
https://thuviensach.vn
SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN XÔ
VỤ OCHOA VÀ ÁN TỬ HÌNH
19
CUBA VÀ LÀN SÓNG TOÀN CẦU HÓA TỰ DO MỚI
20
CHUYẾN THĂM CỦA TỔNG THỐNG JIMMY CARTER
21
VỤ BẮT GIỮ BỌN NỔI LOẠN THÁNG 3 NĂM 2003
22
VỤ CƯỚP MÁY BAY THÁNG 4 NĂM 2003
23
CUBA VÀ TÂY BAN NHA
24
FIDEL VÀ NƯỚC PHÁP
25
CUBA VÀ CHÂU MỸ LA-TINH
CUBA NGAY NAY
27
TỔNG KẾT VỀ MỘT CUỘC ĐỜI VÀ MỘT CUỘC CÁCH MẠNG
28
SAU FIDEL SẼ LÀ GÌ ?
NHỮNG MỐC THỜI GIAN CHÍNH TRONG CUỘC ĐỜI CỦA
FIDEL CASTRO VÀ CÁCH MẠNG CUBA (1926 — 2007)
https://thuviensach.vn
Một trăm giờ với Fidel
Lúc đó là hai giờ sáng, và chúng tôi đã nói chuyện liên tục suốt nhiều
giờ không nghỉ. Chúng tôi ngồi trong văn phòng riêng của ông ở Palacio de
la Revolución (Dinh Cách mạng), một căn phòng giản dị, rộng thênh thang
với trần cao và những ô cửa sổ lớn gắn rèm sáng màu nhìn ra một ban công
rộng, đứng từ đó có thể nhìn thấy một trong những đại lộ chính của thủ đô
Havana. Một tủ sách khổng lồ kê sát tường, và trước giá sách là một chiếc
bàn làm việc dài, chất nặng sách và tài liệu. Tất cả đều gọn gàng, ngăn nắp.
Đặt giữa những cuốn sách trên tủ và trên những chiếc bàn nhỏ kê hai đầu
trường kỷ là một bức tượng đồng bán thân của “Vị Tông đồ của Tự do”
[1]
José Marti
, một bức tượng của Simón Bolivar, rồi tượng của Antonio
[2]
José de Sucre , và tượng bán thân của Abraham Lincoln. Trong một góc
phòng là tác phẩm điêu khắc mang phong cách hiện đại của chàng Hiệp sĩ
Don Quixote đang cưỡi trên con tuấn mã gầy giơ xương Rocinante của
mình. Và trên các bức tường, bên cạnh một bức chân dung sơn dầu khổ lớn
của Camilo Cienfuegos, một trong những trợ thủ đắc lực nhất của Castro
trong căn cứ Sierra Maestra, là ba tài liệu được lồng khung: một lá thư viết
tay của Simón Bolivar, một bức ảnh chụp nhà văn Mỹ Ernest Hemingway
đang giơ cao một con cá kiếm to bự với dòng ký tặng (Tặng Tiến sĩ Fidel
Castro - Chúc anh câu được một con như thế này trong cái giếng ở Cojímar.
Để kỷ niệm tình bạn, Ernest Hemingway), và một bức ảnh cha ông, Angel
Castro, khi mới từ xứ Galicia (Tây Ban Nha) đặt chân lên đất Cuba năm
1895.
Ngồi trước mặt tôi - cao lớn, vững chãi và vạm vỡ, với bộ râu quai
nón gần như bạc trắng, vẫn mặc bộ quân phục màu xanh ôliu quen thuộc
không một cuống huân chương hay bất cứ thứ đồ trang trí nào khác, và nhất
là không một dấu hiệu mệt mỏi nào sau ngần ấy thời gian nói chuyện liên
https://thuviensach.vn
tục - Fidel trả lời bình tĩnh, nhiều khi bằng một giọng nói khẽ đến mức gần
như chỉ còn là một tiếng thì thầm, rất khó nghe. Đó là thời điểm cuối tháng
Giêng năm 2003, và chúng tôi đang bắt đầu đợt đầu tiên của không biết bao
nhiêu cuộc trò chuyện dài không ngừng nghỉ đã đưa tôi quay lại Cuba nhiều
lần suốt những tháng sau đó, đến tận tháng 12 năm 2005.
Ý tưởng về cuộc trò chuyện như thế này đã hình thành từ trước đó
một năm, vào tháng 2 năm 2002. Khi đó tôi đến Havana để thực hiện một
bài giảng tại Hội chợ Sách Havana. Joseph Stigliz, người từng giành giải
Nobel về Kinh tế năm 2001, cũng có mặt tại đây. Fidel đã giới thiệu tôi với
ông bằng câu: “Ông ấy là một nhà kinh tế học, một công dâ, nhưng là người
cấp tiến nhất mà tôi từng biết. Đứng cạnh ông ấy tôi chỉ là một người theo
đường lối ôn hòa”. Fidel và tôi bắt đầu nói vẻ toàn cầu hóa tự do mới và về
Diễn đàn Xã hội Thế giới ở Porto Alegre mà tôi mới tham dự. Fidel muốn
biết tất cả về sự kiện đó - những chủ đề đã được thảo luận, những hội thảo,
các đại biểu tham dự, những dự báo... ông bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình
đối với phong trào toàn cầu hóa mới này: “Một thế hệ nổi loạn mới đã xuất
hiện”, ông nói, “trong đó có rất nhiều người Mỹ. Họ đang sử dụng những
phương pháp đấu tranh mới và khiến những tên đế quốc trên thế giới phải
run rẩy. Tư tưởng còn quan trọng hơn vũ khí. Ngoại trừ bạo lực, còn thì tất
cả các lập luận và quan điểm đều nên được sử dụng để chống lại toàn cầu
hóa”.
Như mọi khi, những ý tưởng cứ thế trào ra như một dòng sông hối hả
trong đầu Fidel. Stiglitz và tôi ngẩn ngơ nghe ông nói. Ông có cái nhìn rất
toàn diện và sâu sắc về toàn cầu hóa, những hậu quả của nó và cách kiểm
soát chúng; những nhận xét của ông, vừa sắc sảo vừa hiện đại, là minh
chứng hùng hồn nhất cho những phẩm chất siêu việt mà các nhà sử học vẫn
đánh giá cao ở ông: đó là cảm quan chiến lược, khả năng “đọc” một tình
huống cụ thể, cùng khả năng phân tích nhanh nhạy. Bên cạnh những phẩm
chất đó là vốn kinh nghiệm tích lũy suốt bao nhiêu năm lãnh đạo đất nước,
kháng chiến và chiến đấu.
Trong khi lắng nghe ông nói, tôi chợt nhận ra rằng thật bất công khi
những thế hệ trẻ ngày nay hầu như không biết gì về cuộc đời và sự nghiệp
https://thuviensach.vn
của ông và đáng buồn rằng, vô tình là nạn nhân của chiến dịch tuyên truyền
chống Castro, rất nhiều người châu Âu mặc dù phản đối toàn cầu hóa tự do,
đặc biệt là các thanh niên, lại coi ông như một tàn dư của Chiến tranh lạnh,
một nhà lãnh đạo còn sót lại của một giai đoạn lịch sử đã hết thời, một
người không còn đóng góp gì đáng kể cho những cuộc đấu tranh của thế kỷ
21
Ngay cả ngày nay, và ngay cả trong những thành trì của cánh tả trên
thế giới, rất nhiều người phê phán, hoài nghi, hoặc thậm chí thẳng thừng
phản đối chế độ do Castro lãnh đạo tại Havana. Và mặc dù trên khắp châu
Mỹ la tinh Cách mạng Cuba vẫn tiếp tục là nguồn cảm hứng nhiệt thành
cho những phong trào xã hội cánh tả và rất nhiều trí thức, thì tại châu Âu nó
lại là một chủ đề gây tranh cãi. Trong thực tế, ngày càng khó tìm được
người - dù ủng hộ hay phản đối cách mạng Cuba đi nữa - khi được yêu cầu
khái quát về Castro và những năm tháng lãnh đạo của ông, có thể đưa ra
một quan điểm khách quan và đúng đắn nhất.
Trước đó tôi đã xuất bản một cuốn sách ngắn về những cuộc trò
chuyện với Subcomandante (Phó Tư lệnh) Marcos, nhà lãnh tụ lãng mạn và
[3]
xuất chúng của lực lượng Zapatista
ở Mêhicô. Fidel cũng đã đọc cuốn
sách này và nhận xét rằng nó khá thú vị. Tôi đề xuất rằng ông và tôi cũng
làm một việc tương tự, nhưng với quy mô lớn hơn. Ông chưa bao giờ viết
hồi ký, và gần như chắc chắn ông sẽ không bao giờ viết, vì thiếu thời gian.
Do vậy, đề xuất của tôi sẽ là một kiểu hồi ký phỏng vấn, mặc dù có hình
thức là một cuộc trò chuyện; đó sẽ là di chúc chính trị của Fidel Castro, một
bản tổng kết bằng lời của chính Fidel Castro về cuộc đời ông ở tuổi tám
mươi và sau hơn nửa thế kỷ kể từ cuộc tấn công vào trại lính Moncada ở
Santiago de Cuba năm 1953 - thời điểm mà nhiều người coi là dấu mốc
đánh dấu sự xuất hiện trước công chúng của Fidel.
Rất hiếm người có vinh dự được đi vào những trang lịch sử và huyền
thoại ngay từ khi còn sống. Fidel là một người như vậy. Ông là “vĩ nhân”
cuối cùng trên chính trường quốc tế. Ông thuộc về thế hệ của những lãnh tụ
vĩ đại - Nelson Mandela, Hồ Chí Minh, Patrice Lumumba, Amílcar Cabral,
https://thuviensach.vn
[4]
[5]
[6]
Che Guevara, Carlos Marighela , Camilo Tores , Mehdi Ben Barka
- những người, để theo đuổi lý tưởng về lẽ phải của mình, đã tham gia vào
hoạt động chính trị trong những năm sau Chiến tranh Thế giới thứ II. Họ
cũng là những người hy vọng thay đổi một thế giới bất công và phân biệt,
một thế giới bị phân cực trong Chiến tranh lạnh, giữa Liên Xô và Mỹ.
Giống như hàng nghìn người tiến bộ và trí thức lỗi lạc trên thế giới, thế hệ
đó đã hoàn toàn tin tưởng rằng Chủ nghĩa cộng sản sẽ hứa hẹn một tương
lai tốt đẹp và tươi sáng hơn, và mọi bất công, phân biệt chủng tộc và nghèo
đới sẽ bị quét sạch khỏi bề mặt trái đất này chỉ trong vài thập kỷ.
Vào thời gian đó - tại Việt Nam, Algeri, Guinea-Bissau, trên hơn một
nửa hành tinh - những dân tộc bị áp bức đã đứng lên. Hồi đó, hầu hết nhân
loại vẫn còn rên xiết dưới sự áp bức nhục nhã của chủ nghĩa thực dân. Hầu
như toàn bộ châu Phi và phần lớn châu Á vẫn còn nằm dưới ách cai trị của
các nước thực dân phương Tây già cỗi. Trong khi ấy, những dân tộc ở Mỹ la
tinh, dù về lý thuyết đã độc lập được hơn 150 năm, vẫn đang chịu sự bóc lột
của những nhóm người thiểu số có đặc quyền và thường nằm dưới ách nô
dịch của nhà độc tài tàn bạo (Batista ở Cuba, Trujilo ở Cộng hòa Dominica.
[7]
Duvalier ở Haiti, Somoza ở Nicaragoa. Ydigoras ở Guatemala
, Pérez
[8]
Jimenez ở Venezuela
, Stroessner ở Paraguay...), những kẻ được
Washington hậu thuẫn đặt lên vị trí lãnh đạo.
Fidel khẽ mỉười khi nghe lời đề nghị của tôi, như thể ông lấy làm
thích thú trước ý tưởng đó. Ông nhìn tôi với ánh mắt tinh nghịch, và hỏi tôi
với chút giễu cợt, “Ông thực sự muốn lãng phí thời gian nói chuyện với tôi
à? Chẳng nhẽ ông không còn việc gì quan trọng hơn để làm hay sao?”. Tất
nhiên là tôi nói tôi thực sự muốn, và không, tôi không còn việc gì quan
trọng hơn thế. Có đến hàng chục nhà báo trên khắp thế giới, trong đó có cả
những nhà báo nổi tiếng và uy nhất, đã dành bao nhiêu năm trời chờ đợi cơ
hội được nói chuyện với Fidel. Đối với một nhà báo chuyên nghiệp, liệu
còn có cuộc phỏng vấn nào quan trọng hơn cuộc phỏng vấn này - với một
người được đánh giá là một trong những nhân vật quan trọng nhất trên thế
https://thuviensach.vn
giới trong vòng sáu thập kỷ qua? Chẳng phải Castro chính là nguyên thủ
[9]
quốc gia nắm quyền lâu nhất trên thế giới hiện nay ? Để so sánh, chúng
ta nên nhớ rằng cũng đúng ngày Fidel, khi ấy mới ba mươi hai tuổi, vào
Havana trong chiến thắng sau khi đánh bại quân đội của Batista - ngày 8
tháng 1 năm 1959 - Tướng Charles de Gaulle tuyên thệ nhậm chức tổng
thống đầu tiên của nền Đệ ngũ Cộng hòa tại Pháp.
Fidel Castro đã phải đương đầu với không dưới mười đời tổng thống
Mỹ (Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon, Ford, Carter, Reagan, Bush
cha, Clinton và bây giờ là Bush con), ông đã có mối quan hệ cá nhân và
thậm chí là bạn bè thân thiết với nhiều lãnh tụ quan trọng nhất trên thế giới
[10]
từ sau năm 1945 (Nehru, Nasser, Tito, Khrushev, Olof Palme
, Willy
[11]
Brandt, Ben Bella, Boumedienne
, Arafat, Indira Gandhi, Salvador
Allende, Brezhnev, Gorbachev, Mitterand, Giang Trạch Dân, Giáo hoàng
John Paul II, Vua Tây Ban Nha Juan Carlos, Nelson Mandela...), ông còn
quen biết nhiều trí thức, nghệ sĩ và nhân vật nổi tiếng trong thời đại của
chúng ta (Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Ernest Hemingway,
Graham Greene, Arthur Miller, Pablo Neruda, Jorge Amado, Oswado
Guayasamin, Henri Cartier-Bresson, Oscar Niemeyer, Julio Cortazar, Jose
Saramago, Gabriel García Marquez, Claudio Abbado, Yves-Jaccques
Cousteau, Harry Belafonte, Angela Davis, Jesse Jackson, Danielle
Mitterand, Costa-Gavras, Gerard Depardieu, Danny Glover, Robert
[12]
Redford, Jack Nicholson, Steven Spielberg, Eduardo Gale
, Diego
Maradona, Oliver Stone, Noam Chomsky và nhiều, rất nhiều người khác).
Dưới sự lãnh đạo của Fidel, đất nước Cuba bé nhỏ (với diện tích
100.000 km vuông và dân số khoảng 11 triệu người) đã theo đuổi một
đường lối ngoại giao cực kỳ mạnh mẽ, với tác động vô cùng sâu rộng - hòn
đảo này đã hiên ngang đứng vững bên cạnh nước Mỹ, bất chấp những nỗ
lực của lãnh đạo siêu cường này trong việc lật đổ hay ám sát Fidel, và thậm
chí là đẩy Cách mạng đi chệch hướng.
https://thuviensach.vn
Tháng 10 năm 1962, một cuộc Chiến tranh Thế giới thứ ba đã suýt
xảy ra khi chính phủ Mỹ kịch liệt phản đối việc Liên Xô triển khai các tên
lửa hạt nhân tại Cuba - những quả tên lửa có chức năng hàng đầu là bảo vệ
hòn đảo này và ngăn ngừa một cuộc xâm lược thứ hai giống như cuộc tấn
công từng được thực hiện năm 1961 tại Vịnh Con Lợn với sự hậu thuẫn
trắng trợn của quân đội Mỹ, nhưng cuộc xâm lược lần thứ hai sẽ do chính
quân đội Mỹ thực hiện, với mục tiêu là lật đổ Chính phủ Cuba.
Từ năm 1960, Mỹ đã tiến hành cuộc chiến kinh tế chống Cuba, và bất
[13]
chấp sự phản đối ngày càng mạnh mẽ của Liên hợp quốc
, đã đơn
phương áp đặt lệnh cấm vận thương mại cực kỳ nguy hại lên đất nước nhỏ
bé này, một lệnh cấm vận được củng cố vào những năm 90 của thế kỷ trước
với Đạo luật Helms-Burton và Tu chính án Torricelli và mới đây lại được
[14]
chính phủ Bush tăng cường thêm vào tháng 5 năm 2004
. Lệnh cấm vận
này đã hủy hoại sự phát triển bình thường của Cuba và góp phần làm trầm
trọng thêm tình hình kinh tế và tài chính vốn đã mong manh của đất nước
[15]
này
, với những hậu quả khốc liệt đối với người dân Cuba.
Mỹ cũng đã theo đuổi một cuộc chiến tranh truyền thông và ý thức hệ
không ngừng nghỉ chống lại Havana, với những đài phát sóng đầy quyền
lực - như Radio Marti và TV Marti - được bố trí tại Florida và phủ kín hòn
đảo này với những luận điệu tuyên truyền giống như thời Chiến tranh lạnh.
Chính quyền Mỹ, thường thông qua những mặt trận như Quỹ Tài trợ Quốc
gia vì Dân chủ (NED), một tổ chức phi chính phủ do Ronald Reagan lập ra
năm 1983, để tài trợ tiền cho các nhóm hải ngoại truyền bá các luận điệu
[16]
thù địch chống Cuba
.
Ví dụ, theo Associated Press, năm 2005 NED đã cung cấp 2,4 triệu
USD cho các tổ chức hoạt động tại châu Âu nhằm làm thay đổi chế độ tại
Cuba. Ngoài ra còn có Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID), vốn phụ
thuộc hoàn toàn vào chính phủ Mỹ và từ năm 1996 đến nay đã chuyển hơn
65 triệu USD cho các lực lượng chống Fidel Castro hoạt động chủ yếu tại
Florida. Tháng 5 năm 2004, chính quyền Bush đã thành lập một quỹ bổ
https://thuviensach.vn
sung trị giá 80 triệu USD dành riêng cho việc tăng cường viện trợ cho các
[17]
nhóm này
. Hàng chục nhà báo trên thế giới được trả tiền để truyền tải
[18]
các thông tin sai lạc về Cuba
.
Một phần khoản tiền này được sử dụng để tài trợ cho các tổ chức
khủng bố thù địch với chính phủ Cuba - trong đó phải kể đến Alpha 66 và
Omega 7. Những tổ chức này có trụ sở ở Florida, nơi chúng bố trí các trại
huấn luyện và thường xuyên tung các nhóm biệt kích có vũ trang để thực
hiện những vụ đánh bom và phá hoại, tất cả đều có sự đồng lõa trắng trợn
của chính quyền Mỹ. Trong vòng 40 năm qua đã có hơn 3500 người Cuba
chết vì các cuộc tấn công khủng bố, với hơn 2000 người bị tàn tật vĩnh viễn
- nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác - và cho đến nay hậu quả của những
[19]
hoạt động khủng bố đó vẫn còn đè nặng lên đất nước này
.
Năm 2005, ngang nhiên chà đạp lên chủ quyền quốc gia của Cuba dưới chiêu bài hòn đảo này là “vấn đề nội bộ” của Mỹ - Washington đã
trắng trợn bổ nhiệm chức danh “Điều phối viên phụ trách Chuyển đổi chế
độ ở Cuba” cho một nhân vật tên là Cabeb McCarry, một người từng đảm
đương nhiệm vụ này tại Afghanistan.
Ngày 10 tháng 6 năm 2006, Ủy ban Hỗ trợ Cuba Tự do, do Ngoại
trưởng Condoleeza Rice và Bộ trưởng thưong mại Mỹ Carlos Guitierrez
làm đồng chủ tịch, đã trình lên Tổng thống Mỹ một bản báo cáo với kiến
nghị cần làm tất cả những gì có thể để “chiến lược duy trì chế độ của Castro
[20]
sẽ thất bại”
. Tài liệu này cho biết tổng lượng tiền mà Mỹ đã gửi viện
trợ cho những đồng minh của mình ở Cuba - những người mà nhà văn
Ernest Hemingway, trong một văn cảnh hoàn toàn khác, đã gọi là “thê đội
[21]
năm”
- lên đến 68,2 triệu USD, và khẳng định số tiền này được gửi
trực tiếp tới “những người bất đồng chính kiến”, phục vụ cho công tác huấn
luyện, mua sắm trang thiết bị và nhu yếu phẩm cần thiết.
Đây là một âm mưu không thể nào chối cãi được của một siêu cường
nhằm gây mất ổn định tình hình của một nước nhỏ . Chủ tịch Quốc hội
https://thuviensach.vn
Cuba, Ricardo Alarcón, đã nói, “chừng nào chính sách này còn được duy
trì, thì những người Cuba thông đồng với Mỹ, nhận tiền của Mỹ;... tôi
không hề biết quốc gia nào lại không coi đó là một hành động tội ác”. Và
ông đã hoàn toàn chính xác khi gọi đó là một tội ác nếu chúng ta biết trong
bản báo cáo đó phía Mỹ đã viết gì: Vì những lý do an ninh và để bảo đảm
tính hiệu quả, một số kiến nghị được xếp riêng vào một phụ lục tuyệt mật
riêng biệt.
Bất chấp những đòn tấn công dai dẳng của Mỹ và hơn 600 âm mưu
ám sát nhằm vào Fidel Castro, Cuba vẫn chưa bao giờ đáp trả bằng bạo lực.
Suốt 48 năm trời, không hề có bất kỳ hành động bạo lực nào do Cuba
khuyến khích hay tài trợ xảy ra tại Mỹ. Ngược lại - Castro còn ra một tuyên
bố sau khi xảy ra những cuộc tấn công khủng bố vào New York và
Washington ngày 11 tháng 9 năm 2001 rằng “thái độ thù địch của nước Mỹ
đối với Cuba cũng không vì thế mà làm giảm đi nỗi thương cảm sâu sắc mà
chúng tôi dành cho những nạn nhân của các vụ tấn công này... Chúng tôi đã
nhiều lần tuyên bố rằng cho dù quan hệ của Cuba với chính quyền
Washinton có như thế nào chăng nữa, sẽ không bao giờ có kẻ nào từ Cuba
bước ra để thực hiện một vụ tấn công khủng bố nhằm vào nước Mỹ”. Và để
nhấn mạnh, Castro đã nói thêm, “Tôi sẵn sàng để họ cắt cụt bàn tay mình
nếu họ tìm thấy bất kỳ lời nào có nội dung miệt thị hoặc xúc phạm nhân dân
Mỹ. Chúng tôi sẽ chẳng hơn gì những kẻ cuồng tín ngu xuẩn nếu chúng tôi
đi trách cứ nhân dân Mỹ vì sự khác biệt giữa hai chính phủ chúng ta”.
Để chống lại sự thù địch không ngừng nhắm vào Cuba từ bên ngoài, ở
trong nước Chính phủ Cuba đã kiên định đường lối đoàn kết, thống nhất
tuyệt đối. Cuba vẫn luôn duy trì nguyên tắc một đảng chính trị duy nhất, và
đã rất mạnh tay trừng phạt bất kỳ sự chống đối hoặc khác biệt nào về quan
điểm, áp dụng đúng theo phương châm của Thánh Ignatius Loyola: “Trong
một pháo đài bị bao vây, mọi sự bất đồng đều là phản quốc”. Do đó, bản
năm 2006 của Tổ chức Ân xá quốc tế về nhân quyền đã lên án quan điểm
của Chính phủ Cuba về các quyền tự do cơ bản (tự do lập hội, tự do ngôn
luận, tự do đi lại) và khuyến cáo cả thế giới rằng “vẫn còn gần 70 tù nhân
lương tâm đang bị giam giữ trong các nhà tù Cuba”. Cho dù thong tin đó có
https://thuviensach.vn
chính xác hay không thì đây cũng là một thực tế mà Cuba khó cỏ thể biện
minh một cách thỏa đáng. Cả với án tử hình cũng vậy, trong khi hình phạt
này đã bị hủy bỏ ở hầu hết các quốc gia phát triển trên thế giới (trừ Mỹ và
Nhật Bản). Không một ai tin vào dân chủ lại tán thành sự tồn tại của những
[22]
tù nhân lương tâm và việc duy trì án tử hình
.
Tuy nhiên, những báo cáo gay gắt này của Tổ chức Ân xá quốc tế
cũng không hề đưa ra bất kỳ cáo buộc nào việc có tình trạng tra tấn tù nhân
tại Cuba, hoặc “sự mất tích”, thủ tiêu các nhà báo, hay các vụ ám sát chính
trị, cũng như việc cảnh sát đánh đập người biểu tình. Cũng chưa bao giờ có
một cuộc bạo loạn nào chống lại chế độ do Castro lãnh đạo - trong suốt hơn
50 năm qua của cuộc Cách mạng. Mặc dù vậy, những bản báo cáo đó cũng
cho biết tại một số quốc gia trong khu vực nằm dưới sự theo dõi của báo chí
và công luận - Guatemala, Honduras, El Salvador, Cộng hòa Dominica,
[23]
thậm chí cả Mêhicô, đó là chưa kể đến Colômbia
, - phụ nữ, các thành
viên công đoàn, thành viên các đảng đối lập với chính phủ, phóng viên, linh
mục, chánh án, thị trưởng, và lãnh đạo các hội dân sự vẫn liên tiếp bị giết
hại một cách trắng trợn, và tất cả những sự vi phạm nhân quyền dã man đó
cũng ít nhận được sự quan tâm và lên án của giới truyền thông quốc tế hơn.
Bên cạnh đó cũng phải bổ sung một thực tế rằng những quốc gia này,
vốn nằm trong danh sách những nước nghèo nhất trên thế giới, đang phải
đối mặt với rất nhiều nguy cơ nghiêm trọng: quyền lợi kinh tế, văn hóa và
xã hội của hàng triệu ngư̖ ị vi phạm thường xuyên; tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh
cao đến mức đáng hổ thẹn; tuổi thọ thấp; nghèo đói; vô gia cư; thất nghiệp;
chăm sóc y tế thiếu thốn; nạn ăn xin, trẻ đường phố, và những khu ổ chuột;
nghiện ngập và buôn bán ma túy; tỷ lệ tội phạm cao; và đủ các loại tệ nạn
xã hội khác... tất cả những hiện tượng này không hề tồn tại tại Cuba.
Ngay cả chuyện tôn sùng cá nhân cũng vậy. Mặc dù gương mặt Fidel
thường xuyên xuất hiện trên báo chí, trên truyền hình và trên đường phố,
nhưng hoàn toàn không có bức chân dung chính thức nào, cũng như không
hề có tượng đài, đồng xu, đại lộ hay công trình, đài tưởng niệm nào dành
https://thuviensach.vn
riêng cho Fidel Castro, hay bất kỳ lãnh đạo nào của Cách mạng đang còn
sống.
Bất chấp sự chống phá không ngừng nghỉ từ bên ngoài, đất nước nhỏ
bé này vẫn kiên cường giữ vững chủ quyền và đã đạt được những thành tựu
cực kỳ đáng ngưỡng mộ trong lĩnh vực phát triển con người: xóa bổ sự
phân biệt sắc tộc, giải phóng phụ nữ, xóa mù chữ, giảm đáng kể tỷ lệ tử
[24]
vong trẻ sơ sinh
, nâng cao dân trí... Trong lĩnh vực giáo dục, chăm sóc
sức khỏe, nghiên cứu y học và thể thao, Cuba đã đạt được những thành tựu
[25]
mà nhiều quốc gia phát triển cũng phải ghen tỵ
.
Cuba tiếp tục là một trong những quốc gia có chính sách ngoại giao
năng động nhất trên thế giới. Trong những năm 60 và 70 của thế kỷ trước,
nước này đã ủng hộ các phong trào kháng chiến có vũ trang ở một số quốc
gia Trung Mỹ (E1 Salvador, Guatemala, Nicaragua) và Nam Mỹ
(Colombia, Venezuela, Bolivia, Argentina). Lực lượng vũ trang Cuba, được
gửi đi khắp nơi trên thế giới, đã tham gia trong những chiến dịch quân sự có
ảnh hưởng quan trọng, đặc biệt là trong những cuộc chiến tại Ethiopia và
Angola. Trong thực tế, can thiệp của lực lượng vũ trang Cuba vào Angola
đã góp phần đánh bại những sư đoàn thiện thiến của Cộng hòa Nam Phi và
rõ ràng là đã thúc đẩy sự sụp đổ của chế độ phân biệt chủng tộc a-pác-thai ở
Nam Phi và giúp Nelson Mandela được phóng thích, cựu tổng thống Nam
Phi đã không bao giờ quên tình bạn với Fidel Castro và món nợ của ông đối
với Cách mạng Cuba.
Trong những năm 80 của thế kỷ trước, Cuba đã đóng vai trò lãnh đạo
trong Phong trào Không liên kết và phát động một chiến dịch quốc tế sâu
rộng nhằm từ chối việc thanh toán nợ nước ngoài của các quốc gia Mỹ
latinh. Trong bối cảnh hỗn loạn của hệ thống xã hội chủ nghĩa sau sự sụp đổ
của Liên Xô và Đông Âu năm 1991, Cách mạng Cuba đã trải qua những
năm tháng vô cùng gian khổ, một giai đoạn được gọi là “thời kỳ đặc biệt”,
nhưng cuối cùng Cuba đã vượt qua, trước sự sững sờ của kẻ thù.
Lần đầu tiên trong lịch sử của mình, Cuba không còn phụ thuộc vào
bất kỳ một cường quốc nào - không phải Tây Ban Nha, Mỹ hay Liên Xô.
https://thuviensach.vn
Cuối cùng thì cũng hoàn toàn độc lập, đất nước này bắt đầu một đời sống
chính trị thứ hai - đứng về bên tả của phong trào cánh tả quốc tế, gắn bó
chặt chẽ với tất cả các phong trào và lực lượng tiến bộ quốc tế, và là một
phần trong cuộc tấn công quy mô lớn chống lại chủ nghĩa tự do mới và toàn
cầu hóa.
Trong bối cảnh địa chính trị như vậy, nhờ vào những thành tựu của
mình và bất chấp những tồn tại không nhỏ (những khó khăn về kinh tế, bộ
máy hành chính quan liêu, nạn tham nhũng lan tràn ở cấp cơ sở, sự khó
khăn trong cuộc sống hàng ngày, thiếu thốn thức ăn và nhu yếu phẩm, thiếu
năng lượng, thiếu rất nhiều phương tiện giao thông công cộng và cá nhân,
các vấn đề về nhà ở, chế độ tem phiếu, và sự hạn chế một số quyền nhất
định), Cách mạng Cuba vẫn luôn là nguồn cổ vũ lớn lao ch
CUỘC ĐỜI TÔI
Một trăm giờ với Fidel Castro
(HỒI KÝ QUA LỜI KỂ)
Người dịch: ĐỖ TUẤN ANH - HOÀNG
MẠNH HIỂN
NHÀ XUẤT BẢN THÔNG TẤN - 2008
Số trang: 960
Kích thước: 16 x 24 cm
Thực hiện ebook: hoi_ls
(www.e-thuvien.com)
Một trăm giờ với Fidel
1
TUỔI THƠ CỦA MỘT LÃNH TỤ
https://thuviensach.vn
2
SỰ XU,T HIỆN CỦA MỘT NGƯỜI NỔI LOẠN
3
THAM GIA CHÍNH TRỊ
4
TẤN CÔNG TRẠI LÍNH MONCADA
5
NỀN TẢNG CỦA CUỘC CÁCH MẠNG
6
“LỊCH SỬ SẼ BÀO CHỮA CHO TÔI”
7
CHE GUEVARA
8
TRONG VÙNG NÚI SIERRA MAESTRA
9
NHỮNG BÀI HỌC TỪ MỘT CUỘC CHIẾN TRANH DU KÍCH
10
CÁCH MẠNG: NHỮNG BƯỚC ĐI ĐẦU TIÊN,
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẦU TIÊN
11
NHỮNG ÂM MƯU BẮT ĐẦU
12
VỊNH CON LỢN/ PLAYA GIRÓN
13
“KHỦNG HOẢNG TÊN LỬA CUBA” THÁNG 10 NĂM 1962
14
CÁI CHẾT CỦA CHE GUEVARA
15
CUBA VÀ CHÂU PHI
16
CUỘC KHỦNG HOẢNG DI CƯ
17
https://thuviensach.vn
SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN XÔ
VỤ OCHOA VÀ ÁN TỬ HÌNH
19
CUBA VÀ LÀN SÓNG TOÀN CẦU HÓA TỰ DO MỚI
20
CHUYẾN THĂM CỦA TỔNG THỐNG JIMMY CARTER
21
VỤ BẮT GIỮ BỌN NỔI LOẠN THÁNG 3 NĂM 2003
22
VỤ CƯỚP MÁY BAY THÁNG 4 NĂM 2003
23
CUBA VÀ TÂY BAN NHA
24
FIDEL VÀ NƯỚC PHÁP
25
CUBA VÀ CHÂU MỸ LA-TINH
CUBA NGAY NAY
27
TỔNG KẾT VỀ MỘT CUỘC ĐỜI VÀ MỘT CUỘC CÁCH MẠNG
28
SAU FIDEL SẼ LÀ GÌ ?
NHỮNG MỐC THỜI GIAN CHÍNH TRONG CUỘC ĐỜI CỦA
FIDEL CASTRO VÀ CÁCH MẠNG CUBA (1926 — 2007)
https://thuviensach.vn
Một trăm giờ với Fidel
Lúc đó là hai giờ sáng, và chúng tôi đã nói chuyện liên tục suốt nhiều
giờ không nghỉ. Chúng tôi ngồi trong văn phòng riêng của ông ở Palacio de
la Revolución (Dinh Cách mạng), một căn phòng giản dị, rộng thênh thang
với trần cao và những ô cửa sổ lớn gắn rèm sáng màu nhìn ra một ban công
rộng, đứng từ đó có thể nhìn thấy một trong những đại lộ chính của thủ đô
Havana. Một tủ sách khổng lồ kê sát tường, và trước giá sách là một chiếc
bàn làm việc dài, chất nặng sách và tài liệu. Tất cả đều gọn gàng, ngăn nắp.
Đặt giữa những cuốn sách trên tủ và trên những chiếc bàn nhỏ kê hai đầu
trường kỷ là một bức tượng đồng bán thân của “Vị Tông đồ của Tự do”
[1]
José Marti
, một bức tượng của Simón Bolivar, rồi tượng của Antonio
[2]
José de Sucre , và tượng bán thân của Abraham Lincoln. Trong một góc
phòng là tác phẩm điêu khắc mang phong cách hiện đại của chàng Hiệp sĩ
Don Quixote đang cưỡi trên con tuấn mã gầy giơ xương Rocinante của
mình. Và trên các bức tường, bên cạnh một bức chân dung sơn dầu khổ lớn
của Camilo Cienfuegos, một trong những trợ thủ đắc lực nhất của Castro
trong căn cứ Sierra Maestra, là ba tài liệu được lồng khung: một lá thư viết
tay của Simón Bolivar, một bức ảnh chụp nhà văn Mỹ Ernest Hemingway
đang giơ cao một con cá kiếm to bự với dòng ký tặng (Tặng Tiến sĩ Fidel
Castro - Chúc anh câu được một con như thế này trong cái giếng ở Cojímar.
Để kỷ niệm tình bạn, Ernest Hemingway), và một bức ảnh cha ông, Angel
Castro, khi mới từ xứ Galicia (Tây Ban Nha) đặt chân lên đất Cuba năm
1895.
Ngồi trước mặt tôi - cao lớn, vững chãi và vạm vỡ, với bộ râu quai
nón gần như bạc trắng, vẫn mặc bộ quân phục màu xanh ôliu quen thuộc
không một cuống huân chương hay bất cứ thứ đồ trang trí nào khác, và nhất
là không một dấu hiệu mệt mỏi nào sau ngần ấy thời gian nói chuyện liên
https://thuviensach.vn
tục - Fidel trả lời bình tĩnh, nhiều khi bằng một giọng nói khẽ đến mức gần
như chỉ còn là một tiếng thì thầm, rất khó nghe. Đó là thời điểm cuối tháng
Giêng năm 2003, và chúng tôi đang bắt đầu đợt đầu tiên của không biết bao
nhiêu cuộc trò chuyện dài không ngừng nghỉ đã đưa tôi quay lại Cuba nhiều
lần suốt những tháng sau đó, đến tận tháng 12 năm 2005.
Ý tưởng về cuộc trò chuyện như thế này đã hình thành từ trước đó
một năm, vào tháng 2 năm 2002. Khi đó tôi đến Havana để thực hiện một
bài giảng tại Hội chợ Sách Havana. Joseph Stigliz, người từng giành giải
Nobel về Kinh tế năm 2001, cũng có mặt tại đây. Fidel đã giới thiệu tôi với
ông bằng câu: “Ông ấy là một nhà kinh tế học, một công dâ, nhưng là người
cấp tiến nhất mà tôi từng biết. Đứng cạnh ông ấy tôi chỉ là một người theo
đường lối ôn hòa”. Fidel và tôi bắt đầu nói vẻ toàn cầu hóa tự do mới và về
Diễn đàn Xã hội Thế giới ở Porto Alegre mà tôi mới tham dự. Fidel muốn
biết tất cả về sự kiện đó - những chủ đề đã được thảo luận, những hội thảo,
các đại biểu tham dự, những dự báo... ông bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình
đối với phong trào toàn cầu hóa mới này: “Một thế hệ nổi loạn mới đã xuất
hiện”, ông nói, “trong đó có rất nhiều người Mỹ. Họ đang sử dụng những
phương pháp đấu tranh mới và khiến những tên đế quốc trên thế giới phải
run rẩy. Tư tưởng còn quan trọng hơn vũ khí. Ngoại trừ bạo lực, còn thì tất
cả các lập luận và quan điểm đều nên được sử dụng để chống lại toàn cầu
hóa”.
Như mọi khi, những ý tưởng cứ thế trào ra như một dòng sông hối hả
trong đầu Fidel. Stiglitz và tôi ngẩn ngơ nghe ông nói. Ông có cái nhìn rất
toàn diện và sâu sắc về toàn cầu hóa, những hậu quả của nó và cách kiểm
soát chúng; những nhận xét của ông, vừa sắc sảo vừa hiện đại, là minh
chứng hùng hồn nhất cho những phẩm chất siêu việt mà các nhà sử học vẫn
đánh giá cao ở ông: đó là cảm quan chiến lược, khả năng “đọc” một tình
huống cụ thể, cùng khả năng phân tích nhanh nhạy. Bên cạnh những phẩm
chất đó là vốn kinh nghiệm tích lũy suốt bao nhiêu năm lãnh đạo đất nước,
kháng chiến và chiến đấu.
Trong khi lắng nghe ông nói, tôi chợt nhận ra rằng thật bất công khi
những thế hệ trẻ ngày nay hầu như không biết gì về cuộc đời và sự nghiệp
https://thuviensach.vn
của ông và đáng buồn rằng, vô tình là nạn nhân của chiến dịch tuyên truyền
chống Castro, rất nhiều người châu Âu mặc dù phản đối toàn cầu hóa tự do,
đặc biệt là các thanh niên, lại coi ông như một tàn dư của Chiến tranh lạnh,
một nhà lãnh đạo còn sót lại của một giai đoạn lịch sử đã hết thời, một
người không còn đóng góp gì đáng kể cho những cuộc đấu tranh của thế kỷ
21
Ngay cả ngày nay, và ngay cả trong những thành trì của cánh tả trên
thế giới, rất nhiều người phê phán, hoài nghi, hoặc thậm chí thẳng thừng
phản đối chế độ do Castro lãnh đạo tại Havana. Và mặc dù trên khắp châu
Mỹ la tinh Cách mạng Cuba vẫn tiếp tục là nguồn cảm hứng nhiệt thành
cho những phong trào xã hội cánh tả và rất nhiều trí thức, thì tại châu Âu nó
lại là một chủ đề gây tranh cãi. Trong thực tế, ngày càng khó tìm được
người - dù ủng hộ hay phản đối cách mạng Cuba đi nữa - khi được yêu cầu
khái quát về Castro và những năm tháng lãnh đạo của ông, có thể đưa ra
một quan điểm khách quan và đúng đắn nhất.
Trước đó tôi đã xuất bản một cuốn sách ngắn về những cuộc trò
chuyện với Subcomandante (Phó Tư lệnh) Marcos, nhà lãnh tụ lãng mạn và
[3]
xuất chúng của lực lượng Zapatista
ở Mêhicô. Fidel cũng đã đọc cuốn
sách này và nhận xét rằng nó khá thú vị. Tôi đề xuất rằng ông và tôi cũng
làm một việc tương tự, nhưng với quy mô lớn hơn. Ông chưa bao giờ viết
hồi ký, và gần như chắc chắn ông sẽ không bao giờ viết, vì thiếu thời gian.
Do vậy, đề xuất của tôi sẽ là một kiểu hồi ký phỏng vấn, mặc dù có hình
thức là một cuộc trò chuyện; đó sẽ là di chúc chính trị của Fidel Castro, một
bản tổng kết bằng lời của chính Fidel Castro về cuộc đời ông ở tuổi tám
mươi và sau hơn nửa thế kỷ kể từ cuộc tấn công vào trại lính Moncada ở
Santiago de Cuba năm 1953 - thời điểm mà nhiều người coi là dấu mốc
đánh dấu sự xuất hiện trước công chúng của Fidel.
Rất hiếm người có vinh dự được đi vào những trang lịch sử và huyền
thoại ngay từ khi còn sống. Fidel là một người như vậy. Ông là “vĩ nhân”
cuối cùng trên chính trường quốc tế. Ông thuộc về thế hệ của những lãnh tụ
vĩ đại - Nelson Mandela, Hồ Chí Minh, Patrice Lumumba, Amílcar Cabral,
https://thuviensach.vn
[4]
[5]
[6]
Che Guevara, Carlos Marighela , Camilo Tores , Mehdi Ben Barka
- những người, để theo đuổi lý tưởng về lẽ phải của mình, đã tham gia vào
hoạt động chính trị trong những năm sau Chiến tranh Thế giới thứ II. Họ
cũng là những người hy vọng thay đổi một thế giới bất công và phân biệt,
một thế giới bị phân cực trong Chiến tranh lạnh, giữa Liên Xô và Mỹ.
Giống như hàng nghìn người tiến bộ và trí thức lỗi lạc trên thế giới, thế hệ
đó đã hoàn toàn tin tưởng rằng Chủ nghĩa cộng sản sẽ hứa hẹn một tương
lai tốt đẹp và tươi sáng hơn, và mọi bất công, phân biệt chủng tộc và nghèo
đới sẽ bị quét sạch khỏi bề mặt trái đất này chỉ trong vài thập kỷ.
Vào thời gian đó - tại Việt Nam, Algeri, Guinea-Bissau, trên hơn một
nửa hành tinh - những dân tộc bị áp bức đã đứng lên. Hồi đó, hầu hết nhân
loại vẫn còn rên xiết dưới sự áp bức nhục nhã của chủ nghĩa thực dân. Hầu
như toàn bộ châu Phi và phần lớn châu Á vẫn còn nằm dưới ách cai trị của
các nước thực dân phương Tây già cỗi. Trong khi ấy, những dân tộc ở Mỹ la
tinh, dù về lý thuyết đã độc lập được hơn 150 năm, vẫn đang chịu sự bóc lột
của những nhóm người thiểu số có đặc quyền và thường nằm dưới ách nô
dịch của nhà độc tài tàn bạo (Batista ở Cuba, Trujilo ở Cộng hòa Dominica.
[7]
Duvalier ở Haiti, Somoza ở Nicaragoa. Ydigoras ở Guatemala
, Pérez
[8]
Jimenez ở Venezuela
, Stroessner ở Paraguay...), những kẻ được
Washington hậu thuẫn đặt lên vị trí lãnh đạo.
Fidel khẽ mỉười khi nghe lời đề nghị của tôi, như thể ông lấy làm
thích thú trước ý tưởng đó. Ông nhìn tôi với ánh mắt tinh nghịch, và hỏi tôi
với chút giễu cợt, “Ông thực sự muốn lãng phí thời gian nói chuyện với tôi
à? Chẳng nhẽ ông không còn việc gì quan trọng hơn để làm hay sao?”. Tất
nhiên là tôi nói tôi thực sự muốn, và không, tôi không còn việc gì quan
trọng hơn thế. Có đến hàng chục nhà báo trên khắp thế giới, trong đó có cả
những nhà báo nổi tiếng và uy nhất, đã dành bao nhiêu năm trời chờ đợi cơ
hội được nói chuyện với Fidel. Đối với một nhà báo chuyên nghiệp, liệu
còn có cuộc phỏng vấn nào quan trọng hơn cuộc phỏng vấn này - với một
người được đánh giá là một trong những nhân vật quan trọng nhất trên thế
https://thuviensach.vn
giới trong vòng sáu thập kỷ qua? Chẳng phải Castro chính là nguyên thủ
[9]
quốc gia nắm quyền lâu nhất trên thế giới hiện nay ? Để so sánh, chúng
ta nên nhớ rằng cũng đúng ngày Fidel, khi ấy mới ba mươi hai tuổi, vào
Havana trong chiến thắng sau khi đánh bại quân đội của Batista - ngày 8
tháng 1 năm 1959 - Tướng Charles de Gaulle tuyên thệ nhậm chức tổng
thống đầu tiên của nền Đệ ngũ Cộng hòa tại Pháp.
Fidel Castro đã phải đương đầu với không dưới mười đời tổng thống
Mỹ (Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon, Ford, Carter, Reagan, Bush
cha, Clinton và bây giờ là Bush con), ông đã có mối quan hệ cá nhân và
thậm chí là bạn bè thân thiết với nhiều lãnh tụ quan trọng nhất trên thế giới
[10]
từ sau năm 1945 (Nehru, Nasser, Tito, Khrushev, Olof Palme
, Willy
[11]
Brandt, Ben Bella, Boumedienne
, Arafat, Indira Gandhi, Salvador
Allende, Brezhnev, Gorbachev, Mitterand, Giang Trạch Dân, Giáo hoàng
John Paul II, Vua Tây Ban Nha Juan Carlos, Nelson Mandela...), ông còn
quen biết nhiều trí thức, nghệ sĩ và nhân vật nổi tiếng trong thời đại của
chúng ta (Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Ernest Hemingway,
Graham Greene, Arthur Miller, Pablo Neruda, Jorge Amado, Oswado
Guayasamin, Henri Cartier-Bresson, Oscar Niemeyer, Julio Cortazar, Jose
Saramago, Gabriel García Marquez, Claudio Abbado, Yves-Jaccques
Cousteau, Harry Belafonte, Angela Davis, Jesse Jackson, Danielle
Mitterand, Costa-Gavras, Gerard Depardieu, Danny Glover, Robert
[12]
Redford, Jack Nicholson, Steven Spielberg, Eduardo Gale
, Diego
Maradona, Oliver Stone, Noam Chomsky và nhiều, rất nhiều người khác).
Dưới sự lãnh đạo của Fidel, đất nước Cuba bé nhỏ (với diện tích
100.000 km vuông và dân số khoảng 11 triệu người) đã theo đuổi một
đường lối ngoại giao cực kỳ mạnh mẽ, với tác động vô cùng sâu rộng - hòn
đảo này đã hiên ngang đứng vững bên cạnh nước Mỹ, bất chấp những nỗ
lực của lãnh đạo siêu cường này trong việc lật đổ hay ám sát Fidel, và thậm
chí là đẩy Cách mạng đi chệch hướng.
https://thuviensach.vn
Tháng 10 năm 1962, một cuộc Chiến tranh Thế giới thứ ba đã suýt
xảy ra khi chính phủ Mỹ kịch liệt phản đối việc Liên Xô triển khai các tên
lửa hạt nhân tại Cuba - những quả tên lửa có chức năng hàng đầu là bảo vệ
hòn đảo này và ngăn ngừa một cuộc xâm lược thứ hai giống như cuộc tấn
công từng được thực hiện năm 1961 tại Vịnh Con Lợn với sự hậu thuẫn
trắng trợn của quân đội Mỹ, nhưng cuộc xâm lược lần thứ hai sẽ do chính
quân đội Mỹ thực hiện, với mục tiêu là lật đổ Chính phủ Cuba.
Từ năm 1960, Mỹ đã tiến hành cuộc chiến kinh tế chống Cuba, và bất
[13]
chấp sự phản đối ngày càng mạnh mẽ của Liên hợp quốc
, đã đơn
phương áp đặt lệnh cấm vận thương mại cực kỳ nguy hại lên đất nước nhỏ
bé này, một lệnh cấm vận được củng cố vào những năm 90 của thế kỷ trước
với Đạo luật Helms-Burton và Tu chính án Torricelli và mới đây lại được
[14]
chính phủ Bush tăng cường thêm vào tháng 5 năm 2004
. Lệnh cấm vận
này đã hủy hoại sự phát triển bình thường của Cuba và góp phần làm trầm
trọng thêm tình hình kinh tế và tài chính vốn đã mong manh của đất nước
[15]
này
, với những hậu quả khốc liệt đối với người dân Cuba.
Mỹ cũng đã theo đuổi một cuộc chiến tranh truyền thông và ý thức hệ
không ngừng nghỉ chống lại Havana, với những đài phát sóng đầy quyền
lực - như Radio Marti và TV Marti - được bố trí tại Florida và phủ kín hòn
đảo này với những luận điệu tuyên truyền giống như thời Chiến tranh lạnh.
Chính quyền Mỹ, thường thông qua những mặt trận như Quỹ Tài trợ Quốc
gia vì Dân chủ (NED), một tổ chức phi chính phủ do Ronald Reagan lập ra
năm 1983, để tài trợ tiền cho các nhóm hải ngoại truyền bá các luận điệu
[16]
thù địch chống Cuba
.
Ví dụ, theo Associated Press, năm 2005 NED đã cung cấp 2,4 triệu
USD cho các tổ chức hoạt động tại châu Âu nhằm làm thay đổi chế độ tại
Cuba. Ngoài ra còn có Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID), vốn phụ
thuộc hoàn toàn vào chính phủ Mỹ và từ năm 1996 đến nay đã chuyển hơn
65 triệu USD cho các lực lượng chống Fidel Castro hoạt động chủ yếu tại
Florida. Tháng 5 năm 2004, chính quyền Bush đã thành lập một quỹ bổ
https://thuviensach.vn
sung trị giá 80 triệu USD dành riêng cho việc tăng cường viện trợ cho các
[17]
nhóm này
. Hàng chục nhà báo trên thế giới được trả tiền để truyền tải
[18]
các thông tin sai lạc về Cuba
.
Một phần khoản tiền này được sử dụng để tài trợ cho các tổ chức
khủng bố thù địch với chính phủ Cuba - trong đó phải kể đến Alpha 66 và
Omega 7. Những tổ chức này có trụ sở ở Florida, nơi chúng bố trí các trại
huấn luyện và thường xuyên tung các nhóm biệt kích có vũ trang để thực
hiện những vụ đánh bom và phá hoại, tất cả đều có sự đồng lõa trắng trợn
của chính quyền Mỹ. Trong vòng 40 năm qua đã có hơn 3500 người Cuba
chết vì các cuộc tấn công khủng bố, với hơn 2000 người bị tàn tật vĩnh viễn
- nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác - và cho đến nay hậu quả của những
[19]
hoạt động khủng bố đó vẫn còn đè nặng lên đất nước này
.
Năm 2005, ngang nhiên chà đạp lên chủ quyền quốc gia của Cuba dưới chiêu bài hòn đảo này là “vấn đề nội bộ” của Mỹ - Washington đã
trắng trợn bổ nhiệm chức danh “Điều phối viên phụ trách Chuyển đổi chế
độ ở Cuba” cho một nhân vật tên là Cabeb McCarry, một người từng đảm
đương nhiệm vụ này tại Afghanistan.
Ngày 10 tháng 6 năm 2006, Ủy ban Hỗ trợ Cuba Tự do, do Ngoại
trưởng Condoleeza Rice và Bộ trưởng thưong mại Mỹ Carlos Guitierrez
làm đồng chủ tịch, đã trình lên Tổng thống Mỹ một bản báo cáo với kiến
nghị cần làm tất cả những gì có thể để “chiến lược duy trì chế độ của Castro
[20]
sẽ thất bại”
. Tài liệu này cho biết tổng lượng tiền mà Mỹ đã gửi viện
trợ cho những đồng minh của mình ở Cuba - những người mà nhà văn
Ernest Hemingway, trong một văn cảnh hoàn toàn khác, đã gọi là “thê đội
[21]
năm”
- lên đến 68,2 triệu USD, và khẳng định số tiền này được gửi
trực tiếp tới “những người bất đồng chính kiến”, phục vụ cho công tác huấn
luyện, mua sắm trang thiết bị và nhu yếu phẩm cần thiết.
Đây là một âm mưu không thể nào chối cãi được của một siêu cường
nhằm gây mất ổn định tình hình của một nước nhỏ . Chủ tịch Quốc hội
https://thuviensach.vn
Cuba, Ricardo Alarcón, đã nói, “chừng nào chính sách này còn được duy
trì, thì những người Cuba thông đồng với Mỹ, nhận tiền của Mỹ;... tôi
không hề biết quốc gia nào lại không coi đó là một hành động tội ác”. Và
ông đã hoàn toàn chính xác khi gọi đó là một tội ác nếu chúng ta biết trong
bản báo cáo đó phía Mỹ đã viết gì: Vì những lý do an ninh và để bảo đảm
tính hiệu quả, một số kiến nghị được xếp riêng vào một phụ lục tuyệt mật
riêng biệt.
Bất chấp những đòn tấn công dai dẳng của Mỹ và hơn 600 âm mưu
ám sát nhằm vào Fidel Castro, Cuba vẫn chưa bao giờ đáp trả bằng bạo lực.
Suốt 48 năm trời, không hề có bất kỳ hành động bạo lực nào do Cuba
khuyến khích hay tài trợ xảy ra tại Mỹ. Ngược lại - Castro còn ra một tuyên
bố sau khi xảy ra những cuộc tấn công khủng bố vào New York và
Washington ngày 11 tháng 9 năm 2001 rằng “thái độ thù địch của nước Mỹ
đối với Cuba cũng không vì thế mà làm giảm đi nỗi thương cảm sâu sắc mà
chúng tôi dành cho những nạn nhân của các vụ tấn công này... Chúng tôi đã
nhiều lần tuyên bố rằng cho dù quan hệ của Cuba với chính quyền
Washinton có như thế nào chăng nữa, sẽ không bao giờ có kẻ nào từ Cuba
bước ra để thực hiện một vụ tấn công khủng bố nhằm vào nước Mỹ”. Và để
nhấn mạnh, Castro đã nói thêm, “Tôi sẵn sàng để họ cắt cụt bàn tay mình
nếu họ tìm thấy bất kỳ lời nào có nội dung miệt thị hoặc xúc phạm nhân dân
Mỹ. Chúng tôi sẽ chẳng hơn gì những kẻ cuồng tín ngu xuẩn nếu chúng tôi
đi trách cứ nhân dân Mỹ vì sự khác biệt giữa hai chính phủ chúng ta”.
Để chống lại sự thù địch không ngừng nhắm vào Cuba từ bên ngoài, ở
trong nước Chính phủ Cuba đã kiên định đường lối đoàn kết, thống nhất
tuyệt đối. Cuba vẫn luôn duy trì nguyên tắc một đảng chính trị duy nhất, và
đã rất mạnh tay trừng phạt bất kỳ sự chống đối hoặc khác biệt nào về quan
điểm, áp dụng đúng theo phương châm của Thánh Ignatius Loyola: “Trong
một pháo đài bị bao vây, mọi sự bất đồng đều là phản quốc”. Do đó, bản
năm 2006 của Tổ chức Ân xá quốc tế về nhân quyền đã lên án quan điểm
của Chính phủ Cuba về các quyền tự do cơ bản (tự do lập hội, tự do ngôn
luận, tự do đi lại) và khuyến cáo cả thế giới rằng “vẫn còn gần 70 tù nhân
lương tâm đang bị giam giữ trong các nhà tù Cuba”. Cho dù thong tin đó có
https://thuviensach.vn
chính xác hay không thì đây cũng là một thực tế mà Cuba khó cỏ thể biện
minh một cách thỏa đáng. Cả với án tử hình cũng vậy, trong khi hình phạt
này đã bị hủy bỏ ở hầu hết các quốc gia phát triển trên thế giới (trừ Mỹ và
Nhật Bản). Không một ai tin vào dân chủ lại tán thành sự tồn tại của những
[22]
tù nhân lương tâm và việc duy trì án tử hình
.
Tuy nhiên, những báo cáo gay gắt này của Tổ chức Ân xá quốc tế
cũng không hề đưa ra bất kỳ cáo buộc nào việc có tình trạng tra tấn tù nhân
tại Cuba, hoặc “sự mất tích”, thủ tiêu các nhà báo, hay các vụ ám sát chính
trị, cũng như việc cảnh sát đánh đập người biểu tình. Cũng chưa bao giờ có
một cuộc bạo loạn nào chống lại chế độ do Castro lãnh đạo - trong suốt hơn
50 năm qua của cuộc Cách mạng. Mặc dù vậy, những bản báo cáo đó cũng
cho biết tại một số quốc gia trong khu vực nằm dưới sự theo dõi của báo chí
và công luận - Guatemala, Honduras, El Salvador, Cộng hòa Dominica,
[23]
thậm chí cả Mêhicô, đó là chưa kể đến Colômbia
, - phụ nữ, các thành
viên công đoàn, thành viên các đảng đối lập với chính phủ, phóng viên, linh
mục, chánh án, thị trưởng, và lãnh đạo các hội dân sự vẫn liên tiếp bị giết
hại một cách trắng trợn, và tất cả những sự vi phạm nhân quyền dã man đó
cũng ít nhận được sự quan tâm và lên án của giới truyền thông quốc tế hơn.
Bên cạnh đó cũng phải bổ sung một thực tế rằng những quốc gia này,
vốn nằm trong danh sách những nước nghèo nhất trên thế giới, đang phải
đối mặt với rất nhiều nguy cơ nghiêm trọng: quyền lợi kinh tế, văn hóa và
xã hội của hàng triệu ngư̖ ị vi phạm thường xuyên; tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh
cao đến mức đáng hổ thẹn; tuổi thọ thấp; nghèo đói; vô gia cư; thất nghiệp;
chăm sóc y tế thiếu thốn; nạn ăn xin, trẻ đường phố, và những khu ổ chuột;
nghiện ngập và buôn bán ma túy; tỷ lệ tội phạm cao; và đủ các loại tệ nạn
xã hội khác... tất cả những hiện tượng này không hề tồn tại tại Cuba.
Ngay cả chuyện tôn sùng cá nhân cũng vậy. Mặc dù gương mặt Fidel
thường xuyên xuất hiện trên báo chí, trên truyền hình và trên đường phố,
nhưng hoàn toàn không có bức chân dung chính thức nào, cũng như không
hề có tượng đài, đồng xu, đại lộ hay công trình, đài tưởng niệm nào dành
https://thuviensach.vn
riêng cho Fidel Castro, hay bất kỳ lãnh đạo nào của Cách mạng đang còn
sống.
Bất chấp sự chống phá không ngừng nghỉ từ bên ngoài, đất nước nhỏ
bé này vẫn kiên cường giữ vững chủ quyền và đã đạt được những thành tựu
cực kỳ đáng ngưỡng mộ trong lĩnh vực phát triển con người: xóa bổ sự
phân biệt sắc tộc, giải phóng phụ nữ, xóa mù chữ, giảm đáng kể tỷ lệ tử
[24]
vong trẻ sơ sinh
, nâng cao dân trí... Trong lĩnh vực giáo dục, chăm sóc
sức khỏe, nghiên cứu y học và thể thao, Cuba đã đạt được những thành tựu
[25]
mà nhiều quốc gia phát triển cũng phải ghen tỵ
.
Cuba tiếp tục là một trong những quốc gia có chính sách ngoại giao
năng động nhất trên thế giới. Trong những năm 60 và 70 của thế kỷ trước,
nước này đã ủng hộ các phong trào kháng chiến có vũ trang ở một số quốc
gia Trung Mỹ (E1 Salvador, Guatemala, Nicaragua) và Nam Mỹ
(Colombia, Venezuela, Bolivia, Argentina). Lực lượng vũ trang Cuba, được
gửi đi khắp nơi trên thế giới, đã tham gia trong những chiến dịch quân sự có
ảnh hưởng quan trọng, đặc biệt là trong những cuộc chiến tại Ethiopia và
Angola. Trong thực tế, can thiệp của lực lượng vũ trang Cuba vào Angola
đã góp phần đánh bại những sư đoàn thiện thiến của Cộng hòa Nam Phi và
rõ ràng là đã thúc đẩy sự sụp đổ của chế độ phân biệt chủng tộc a-pác-thai ở
Nam Phi và giúp Nelson Mandela được phóng thích, cựu tổng thống Nam
Phi đã không bao giờ quên tình bạn với Fidel Castro và món nợ của ông đối
với Cách mạng Cuba.
Trong những năm 80 của thế kỷ trước, Cuba đã đóng vai trò lãnh đạo
trong Phong trào Không liên kết và phát động một chiến dịch quốc tế sâu
rộng nhằm từ chối việc thanh toán nợ nước ngoài của các quốc gia Mỹ
latinh. Trong bối cảnh hỗn loạn của hệ thống xã hội chủ nghĩa sau sự sụp đổ
của Liên Xô và Đông Âu năm 1991, Cách mạng Cuba đã trải qua những
năm tháng vô cùng gian khổ, một giai đoạn được gọi là “thời kỳ đặc biệt”,
nhưng cuối cùng Cuba đã vượt qua, trước sự sững sờ của kẻ thù.
Lần đầu tiên trong lịch sử của mình, Cuba không còn phụ thuộc vào
bất kỳ một cường quốc nào - không phải Tây Ban Nha, Mỹ hay Liên Xô.
https://thuviensach.vn
Cuối cùng thì cũng hoàn toàn độc lập, đất nước này bắt đầu một đời sống
chính trị thứ hai - đứng về bên tả của phong trào cánh tả quốc tế, gắn bó
chặt chẽ với tất cả các phong trào và lực lượng tiến bộ quốc tế, và là một
phần trong cuộc tấn công quy mô lớn chống lại chủ nghĩa tự do mới và toàn
cầu hóa.
Trong bối cảnh địa chính trị như vậy, nhờ vào những thành tựu của
mình và bất chấp những tồn tại không nhỏ (những khó khăn về kinh tế, bộ
máy hành chính quan liêu, nạn tham nhũng lan tràn ở cấp cơ sở, sự khó
khăn trong cuộc sống hàng ngày, thiếu thốn thức ăn và nhu yếu phẩm, thiếu
năng lượng, thiếu rất nhiều phương tiện giao thông công cộng và cá nhân,
các vấn đề về nhà ở, chế độ tem phiếu, và sự hạn chế một số quyền nhất
định), Cách mạng Cuba vẫn luôn là nguồn cổ vũ lớn lao ch
 





